Các khóa học đã đăng ký

Phân loại các nhóm trường tại Mỹ

Mẫu giáo và Nhà trẻ (Pre-school and Kindergarten)

Học sinh Mỹ bắt đầu đi học ở trường mầm non hoặc mẫu giáo trong 1-3 năm trước khi tiến tới tiểu học (tiểu học). Ở hầu hết các tiểu bang, tuổi bắt đầu đi học là 6 tuổi.

Hầu hết các khu học chánh đều có một năm học mẫu giáo miễn phí trước khi bắt đầu năm học; trong đa số trường hợp, trẻ em phải đủ 5 tuổi để vào mẫu giáo.

Tiểu học và Trung học Cơ sở (Elementary/Primary và High School/Secondary School)

Trẻ em học tiểu học (tiểu học) trường với số lượng thời gian khác nhau. Trong hầu hết các trường hợp, học sinh học tiểu học cho đến lớp 6. Sau đó học sinh đạt được một trong hai điều sau đây: một trường trung học cơ sở trong hai năm, trung học cơ sở / trung học phổ thông kết hợp (thường là các lớp 7-12) hoặc một trường trung học bốn năm . Xin lưu ý rằng các trường trung học cũng có thể được gọi là trường trung học.

Học sinh ở Mỹ có thể lựa chọn đi học các trường công lập (miễn phí) hoặc đến các trường tư thục (trường phải đóng học phí hoặc học bổng). Đại đa số (88%) theo học các trường công lập; trên toàn quốc, 9% tham dự các trường tư thục, nhưng tỷ lệ này cao hơn nhiều ở một số vùng và thành phố, và giữa người da trắng người da trắng. Ba phần trăm học tại nhà, trong trường hợp đó cha mẹ và / hoặc người chăm sóc trẻ cung cấp dịch vụ cho trẻ em nếu thực hành của họ đáp ứng các luật giáo dục của nhà nước.

Giáo dục trung học (secondary school hoặc high school)

Tại Mỹ có 04 hệ giáo dục trung học, tuy nhiên hệ giáo dục 04 năm là phổ biến nhất, thường được nhắc đến với thuật ngữ secondary school hoặc high school (bạn sẽ cần nhớ 02 thuật ngữ này để tránh việc nhầm lần trong quá trình chuẩn bị hồ sơ tuyển sinh bậc đại học sau này).

Thuật ngữ “secondary shool” tại Mỹ dùng để chỉ bậc giáo dục sau tiểu học, thường được chia làm 2 giai đoạn: middle/junior high school (trung học cơ sở) và high school (trung học phổ thông).

"Middle school" (hoặc "junior highschool") có sự khác biệt lớn giữa các tiểu bang. Bậc giáo dục này thường bao gồm lớp 7 và 8 và đôi khi bao gồm cả lớp 6 hoặc 9. High school (hay senior high school trong một số trường hợp) bao gồm lớp 9 tới lớp 12 (bạn cần lưu ý khác biệt này so với trung học phổ thông tại Việt nam gồm từ lớp 10 tới 12 khi chuẩn bị hồ sơ đăng ký học phổ thông trung học hoặc đại học tại Mỹ). Học sinh bậc trung học thường được nhắc tới với các thuật ngữ freshmen (lớp 9), sophomores (lớp 10), juniors (lớp 11) và seniors (lớp 12). Ở bậc trung học phổ thông, học sinh thường tham gia nhiều lớp học khác nhau mà không cần tập trung sâu vào một môn học nào (ngoại trừ tại các trường dạy nghề). Học sinh trung học thường được yêu cầu tham gia nhiều môn học bắt buộc, nhưng cũng có thể lựa chọn các môn học khác theo sở thích ("electives") để đáp ứng yêu cầu về số giờ học. Thông tin xếp hạng học lực thường được cung cấp trong bảng điểm ở bậc trung học phổ thông, đặc biệt quan trọng khi bạn chuẩn bị hồ sơ ứng tuyển đại học (bạn cũng cần lưu ý điều này khi chuẩn bị hồ sơ ứng tuyến vì bảng điểm trung học phổ thông tại Việt nam đôi khi không cung cấp thông tin xếp hạng).


Trường trung học công lập (public highs chools)

Các trường công lập tại Mỹ được hỗ trợ tài chính từ ngân sách tiểu bang và từ tiền thuế bất động sản thu được từ cư dân trong khu vực. Trừ những học sinh của các trường tư thục hoặc được áp dụng chính sách đặc biệt, học sinh được xếp vào học các trường nhất định tùy thuộc vào địa chỉ nơi cha mẹ hoặc người giám hộ sinh sống với hệ thống xe bus đưa đón miễn phí.

Charter schools

Charter schools là các trường công lập hoạt động độc lập theo Điều lệ riêng, thường có số lượng tuyển sinh khá hạn chế và học sinh thường được tuyển thông qua thủ tục tuyển sinh riêng của từng trường. Các trường charter schools có thể tập trung vào một hoặc một số lĩnh vực cụ thể như công nghệ hoặc nghệ thuật, hoặc cũng có thể áp dụng hệ thống các môn học cơ bản như các trường công lập khác. Các trường charter schools cũng có thể được thành lập dành riêng cho các học sinh năng khiếu hoặc nhóm các học sinh có tình trạng đặc biệt.

Magnet schools

Magnet high schools là các trường công dành cho các học sinh năng khiếu với quy trình tuyển sinh khắt khe, thường dựa trên điểm trung bình học tập, xếp hạng và điểm kiểm tra riêng

STEM schools

STEM schools là các trường tập trung sâu vào các lĩnh vực khoa học, công nghệ, thiết kế và toán học (Sience-Technology-Engeneering-Math), dựa trên triết lý giáo dục riêng và một hệ thống môn học liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực khoa học. Theo thống kê của Bộ Giáo dục Mỹ, chỉ khoảng 16% học sinh trung học có nguyện vọng phát triển sự nghiệp liên quan tới khoa học

Trường trung học tư thục

Với trên 10,000 trường, khối trung học tư thục chiếm hơn 25% số trường và khoảng 10% số học sinh tại Mỹ. Mặc dù thường là lựa chọn của các gia đình có mức thu nhập cao, các trường trung học tư thục cũng được lựa chọn bởi nhiều đối tượng khác vì chất lượng giáo dục và chất lượng sinh viên tốt nghiệp

Cao đẳng cộng đồng (community college)

Tại Mỹ, các trường cao đẳng cộng đồng (từng được biết đến với thuật ngữ junior colleges) là các trường cao đẳng công lập hệ 2 năm. Trong số các trường này, nhiều trường cung cấp cả các khóa học cấp chứng chỉ tốt nghiệp trung học, kỹ thuật và học nghề. Một số ít cung cấp các khóa học cấp bằng 4 năm. Hiện có khoảng trên 20 tiểu bang tại Mỹ cho phép các trường cao đẳng cộng đồng cung cấp các khóa học cấp bằng cử nhân 4 năm.

Sau khi tốt nghiệp cao đẳng cộng đồng, một số sinh viên chuyển tiếp sang các trường đại học và lấy bằng cử nhân sau 2 tới 3 năm, trong khi các sinh viên khác bắt đầu đi làm ngay.

Tính tới tháng 1 năm 2016, có 982 trường cao đẳng cộng đồng công lập trên toàn nước Mỹ. Hàng năm, có khoảng 8 triệu sinh viên theo học cao đẳng cộng đồng, trong đó khoảng 3.2 triệu học toàn thời gian, 4.8 triệu học bán thời gian

Hệ đại học 4 năm (Liberal Arts College và University)

Tại Mỹ, thuật ngữ “college” và “university” được sử dụng chung cho nhóm trường hệ đại học, tuy nhiên có một số khác biệt cơ bản:

College (hay Liberal Arts College)

Thường dùng để chỉ nhóm trường đại học hệ 4 năm, tập trung vào đào tạo bậc cử nhân với chương trình học chú trọng vào các môn học có tính “đại cương”, “khai phóng” và khoa học nói chung. Liberal Arts College được tạm dịch sang tiếng Việt là các trường ‘Đại học khai phóng”, “Đại học đại cương” hay “Đại học Nghệ thuật Tự do”

University

Tại Mỹ, thuật ngữ “university” thường được dùng để chỉ các trường đại học nghiên cứu có quy mô lớn, tuy nhiên đôi khi cũng được dùng để chỉ các trường đại học liberal arts có nhiều hơn 1 liberal arts college trực thuộc. Ví dụ các trường như Colgate University, Lehigh University, Emory University, University of Richmond hay Washington and Lee University đều là các trường liberal arts college với nhiều liberal arts college trực thuộc.

Đại học công tập và tư thục

Các trường đại học công lập tại Mỹ (public institutions) là các trường hoạt động với ngân sách do chính phủ liên bang hoặc tiểu bang tài trợ, thường có mức chi phí thấp đối với sinh viên cư trú tại tiểu bang ($9,000 - $12,000/năm) và cao hơn với sinh viên đến từ các bang khác hoặc sinh viên quốc tế ($20,000 - $40,000/năm).

Các trường đại học tư thục tại Mỹ (private institutions) hoạt động dựa vào nguồn thu từ học phí, thu dịch vụ và thu từ các nguồn tài trợ tư nhân. Các nguồn tài trợ tư nhân này, thường rất lớn ở các trường đại học tư nhân có thứ hạng cao, là nguồn chính cho việc cung cấp các gói tài trợ tài chính cho sinh viên. Học phí tại các trường đại học tư thục thường cao hơn nhiều so với trường công lập và không phân biệt giữa sinh viên trong nước và sinh viên quốc tế ($25,000 – $50,000/năm chưa bao gồm chi phí ăn ở nội trú).

Nguồn: Sách vàng du học Mỹ

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Cũ hơn Mới hơn